Thầy Viết

CTSQ Nguyễn đình Ngọc 4834

thay Viet

1. Cụ Nghè Dương Khuê. Trong một bài báo Việt ngữ sáng nay, có đoạn viết về nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, ông là cháu nội cụ Nghè Dương Khuê. Dương Thiệu Tước là một nhạc sĩ tài hoa của thời VNCH trước 1975. Những thế hệ chúng tôi và trước đó, hầu hết đều biết danh của ông. Một số bài nhạc của ông được nhiều người biết như: "Đêm tàn bến ngự", "Tiếng xưa", "Bóng chiều xưa" . . . bài "Tiếng xưa" có lẽ không mấy ai không biết.

Thế còn cụ Dương Khuê, ông nội của nhạc sĩ, tôi tự hỏi: “không biết có ai còn nhớ đến cụ Nghè Dương Khuê? ”. Tôi không được học một bài thơ hay bài văn nào của cụ Dương Khuê trong suốt những năm trung học của tôi thuở ấy, và có lẽ thơ văn của cụ đã không được giảng dạy trong bậc trung học của VNCH trước 1975.

- Ngày xưa, các cụ nếu muốn đi từ làng này sang làng nọ thăm nhau, phải chờ một ngày đẹp trời mát mẻ, rồi cơm nắm túi mang ra đi từ sáng sớm, vì phải vượt những con đường làng và đôi khi phải lội xuống ruộng . . .

Thầy Viết đứng trên phía bảng đen, giọng nói của thấy luôn luôn từ tốn nhỏ nhẹ. Trong suốt những năm học với thầy, tôi chưa từng nghe thầy lớn tiếng cao giọng với ai cả. Hình dáng tầm thước trong áo sơ-mi trắng, quần tây sậm màu, giày đen, kính trắng của thầy là không lầm lẫn với ai được. Thầy Viết nói cho chúng tôi nghe sơ lược về cuộc sống của các cụ ngày xưa, một thời đã mịt mờ không còn nữa.

Tờ báo Việt ngữ lơi trong tay, hình ảnh cây đa đầu làng, lũy tre xanh đùa theo gió, những mái nhà tranh của làng quê miền bắc ẩn hiện trong đầu tôi, có lẽ ngày ấy khi thầy Viết giảng đoạn này, trí óc tôi cũng mơ màng hình ảnh tương tự. Và tất cả những hình ảnh ấy chỉ là tưởng tượng, vì chưa bao giờ tôi biết đến miền bắc ra sao. Và rồi bài thơ song thất lục bát "Khóc bạn" của cụ Tam nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến được gợi nhớ từng hàng:

Bác Dương thôi đã thôi rồi.
Nước mây mang mác ngậm ngùi lòng ta.
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời.

Bài thơ khá dài, nhất thời tôi không tài nào nhớ hết. Tâm đắc nhất có lẽ là bốn câu, ngày xưa thích hai câu đầu, bây giờ thích hai câu sau:

Rượu ngon không có bạn hiền.
Không mua, không phải không tiền không mua!
Câu thơ viết, đắn đo không viết.
Viết đưa ai? Ai biết mà đưa!

"Bác Dương" trong bài thơ chính là cụ Nghè Dương Khuê. Tên của cụ chỉ được nhắc đến một lần duy nhất khi học về thơ văn Nguyễn Khuyến. Đến hôm nay cũng đã vơi đầy 40 năm, lời thầy giảng, bài thầy cho vẫn còn ngủ yên đâu đó trong ký ức, chỉ cần một rung động nhẹ cũng đủ gọi lại một khoảng thiếu thời êm đẹp . . . Và bài báo về nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đành bỏ dở nửa chừng.

2. Đào hoa y cựu.
Thầy Viết đứng trên bục giảng:
- Sau khi Kim Trọng để tang cha ở Liêu Đông trở về, thì đã không còn thấy Thúy Kiều đâu nữa, cụ Nguyễn Du diễn bằng 2 câu:

Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

- Hai câu ấy là lấy từ bài thơ cổ . . . Và rồi thầy Viết chắp tay trước bụng, lim dim đôi mắt sau cặp kiếng trắng đọc một bài thơ hán-Việt, mà tôi khi ấy chẳng hiểu gì, chỉ nhớ được loáng thoáng mấy chữ "Đào hoa y cựu" là hết.

Sau này có đôi chút rảnh rang, tôi mới tìm đọc lại Đoạn trường tân thanh, khi đến câu "Trước sau nào thấy bóng người." nhớ phong dáng và lời thầy giảng khi ấy, tôi lại tìm thêm chút nữa. Đó là bài thơ của ông Thôi Hộ, sự tích có nhiều vẻ thần tiên của Thôi thi sĩ và người đẹp vườn đào chắc mọi người biết rồi không cần nhắc lại nữa, chỉ muốn nói đến bài thơ Hán-Việt, bài "Đề đô thành nam trang" mà thầy Viết ngâm nga vào buổi học hôm đó:

Khứ niên kim nhật thử môn trung.
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ?
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

Ngẫm nghĩ đôi chút về bài "Đề đô thành nam trang", trong tôi bỗng nảy ra một nghi vấn, tra lục và đọc thêm gần hai mươi bài thơ dịch ra chữ Việt từ bài thơ trên, trong đó có cả bài dịch của cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu và một bài dịch của cụ Trần Trọng Kim. Thế nhưng tất cả những bài thơ dịch và những tìm kiếm thêm đó, cũng đều không giải đáp được điều tôi muốn biết.

Ngày xưa khi ngồi dưới bàn nghe thầy giảng, tôi đã không hiểu hết, để có nổi thắc mắc này. Hôm nay dù muốn hỏi, tôi không còn biết hỏi ai.

Thầy Viết đã khai tâm mở trí cho chúng tôi trên phương diện văn học. Xa hơn chút nữa, thầy dẫn dắt chúng tôi đến với tâm hồn, với tình tự của ông cha, ẩn hiện đó đây trong văn chương Việt.

3. Một trái tim.
Giờ Việt văn của thầy Nguyễn Điền Đạm, vừa vào lớp thầy vui "thấy rõ", đặt cái cặp nhỏ trên bàn xong, thầy hướng xuống tụi tôi:
- Có câu chuyện nhỏ, để thầy kể cho nghe.
Gì chớ, nghe kể chuyện khỏi phải học là tụi tôi nháo nhào lên liền:
- Dạ, dạ, kể hết giờ luôn đi thầy.
- Thầy hôm nay vui và . . . đẹp trai hết sức.
Chờ cho tụi tôi lặng xuống thầy hỏi:
- Cuối tuần này là ngày vui của thầy Hồ Công Tâm trưởng phòng Văn Hoá các em biết chưa?
- Chời! chưa biết thầy, chưa!
- Ngày vui hả thầy, mà vui sao vậy thầy?
- Thì thầy Tâm lập gia đình, cuối tuần là ngày đám cưới.
- Đám cưới là vui nhất hạng rồi!
- Đám lớn không thầy?
- Lấy cô nào dzậy thầy?

Vốn lười học, được dịp là tụi tôi ồn ào. Quí thầy, vốn là ‘Thầy’, nên rành quá sức. Kệ tụi tôi nhốn nháo hỏi han, thầy chỉ trả lời những câu đáng trả lời.

Thầy Đạm đưa tay ra hiệu cho tụi tôi trật tự:
- Cô cũng tên Tâm luôn. Khi nãy trên phòng giáo chức, các thầy đưa ra một cái card, nhờ thầy Viết ghi cho mấy lời chúc. Thầy Viết đắn đo vài giây và ghi liền, rồi đưa cho các thầy xem . . . các thầy đều trầm trồ thán phục, chữ viết thiệt đẹp, và chỉ có 7 chữ: “một trái tim trao một trái tim”.

Tụi tôi lại ồn lên, tán nhăng tán cuội để câu giờ:
- Hay quá, ý nghĩa quá!
- Thầy Tâm lấy cô Tâm, một Trái Tim trao một Trái Tim.
- Hay thiệt là hay hén thầy.

Đến nay cũng đã vơi đầy 40 năm, thầy Nguyễn Văn Viết đã không còn nữa. Thầy Hồ Công Tâm vẫn khoẻ mạnh đi dự các buổi họp mặt của liên lớp ‘tú tài IBM’. Thầy Nguyễn Điền Đạm không còn như xưa; thầy xuống sức sau trận tai biến mạch máu não năm nào, giọng nói trở nên đơ đớ. Những bạn tôi: Nguyễn K Nhơn, Cao H Nam, Hoàng N Quang .v.v . . . vẫn đến thăm gia đình thầy Nguyễn Điền Đạm trong ngày ‘nhớ ơn thầy’, Vợ thầy nói với bạn tôi:

- Học trò thầy dạy có đến vài ngàn, nhưng duy chỉ có các em Thiếu Sinh Quân vẫn còn ghé thăm . . .
Nếu còn có dịp gặp gỡ để thưa với các thầy; rằng tôi vẫn nhớ đến các thầy và những câu chuyện kể, dù đã qua biết bao dâu bể đổi thay.

| ↑Top of page ↑ |