Ngày tựu trường và những người muôn năm cũ . . .

CTSQ Nguyễn Văn Sơn

truong_tsq_vt

Đã hơn năm mươi năm qua, các chữ “Ngày tựu trường” đã phai nhạt đi ít nhiều trong một số chúng ta, thậm chí cũng có thể không còn một ký ức nào về cái ngày đã quá xa xưa đó vì những lo toan đời thường và những sao nhãng khác. Với tôi, cái ngày đó bao giờ cũng là hình ảnh đậm nét trong một chỗ sâu khuất của bộ nhớ, dù bộ nhớ đó đã rất mệt mõi. Những hình ảnh, những suy nghĩ, cùng những cảm giác về những “Ngày tựu trường” đã qua trong đời trong những ngày thơ ấu đó, nhưng phải nói rằng những hình ảnh, những cảm giác về cái ngày tựu trường của chúng ta đi học ngày xưa nó đậm nét, gây biết bao nỗi xao xuyến mà hơn nửa thế kỷ sau anh em chúng ta vẫn không thế nào quên được.

Những ngày đó . . . Ngày tựu trường . . . Tôi còn nhớ, nó thường vào khoảng cuối tháng sáu hàng năm, đoàn xe GMC, hơn mười hai chiếc tập trung trên đường Thành Thái, Sài Gòn, bên hông trường Đại Học Sư Phạm - để từ đó chở anh em chúng ta ra Vũng Tàu đến trường. Cái dắt tay của bà mẹ dẫn chúng ta đến bến xe tập trung đó... đã hơn năm mươi năm qua mà tôi không thể nào quên được.

Những ngày đó . . . Ngày tựu trường. Tôi còn nhớ giờ đầu học Việt Văn của thầy Phạm văn Viết, thầy luôn luôn đọc lại mãi cho anh em chúng tôi, dù khi ấy chúng tôi không còn ở những năm tiểu học, đoạn văn mở đầu của bài viết về ngày khai trường của Thanh Tịnh:

“ . . . Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mĩm cười giữa bầu trời quang đãng . . .

Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường nầy tôi đã đi lại nhiều lần, nhưng lần nầy tôi cảm thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học”.

Đoạn văn của Thanh Tịnh về ngày khai trường, một thời đã làm ngây ngất bao trái tim của những đứa học trò tiểu học, dù đó là những đứa học trò cứng đầu nhất và phá nhất trong lớp học.

Trong giờ học Việt văn đầu tiên đó của lớp tôi với thầy Viết, thầy cũng đọc cho chúng tôi nghe thêm hai đoạn văn, một của Anatole France và một của De Amicis trong cuốn Tâm Hồn Cao Thượng do Cụ Hà Mai Anh dịch: “ . . . Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng hè thoáng qua như giấc mộng. Sáng nay, Mẹ tôi đưa tôi vào trường Ba Lệ Tư để ghi tên lên lớp ba. Đi đường, đầu óc tôi cứ vơ vẩn đến chốn nhà quê, lấy sự đi học làm ngại . . . ”

Và những lời văn đầy chất thơ của Anatole France cũng viết về ngày khai trường . . . những lời văn nầy, thầy Viết cũng đọc cho chúng tôi nghe, mà bao nhiêu năm rồi tôi không thể nào quên được: “Hôm nay là ngày khai trường, tôi sẽ kể cho bạn nghe những gì tôi trông thấy khi tôi đi ngang qua vườn Lục Xâm Bảo trong những ngày đầu tháng mười. Lúc đó, trời hơi buồn một chút nhưng đẹp hơn bao giờ vì đó lúc mà những chiếc lá vàng rơi từng chiếc trên vai những pho tượng trắng . . . ”

Ký ức tuổi thơ tôi là như thế. Mái trường ẩn dưới những gốc cây bàng xòe rộng tàn lá, mà anh em chúng ta thường quen gọi là “Lầu Văn Hóa”. Lầu Văn Hóa nầy, có kiến trúc giống như “Lầu Tiểu Đoàn I” và “Lầu Tiểu Đoàn II”, mới nhìn thoạt trông giống nhau, nhưng thật sự Lầu Văn Hóa, dài hơn mỗi bên, cánh trái và cánh phải của nó so với lầu Tiểu đoàn I và II một phòng. Từ dưới đất bước lên lầu một, lầu tiểu đoàn I và II, chỉ có 16 bước, trong khi lầu Văn Hóa phải đếm 18 bước mới lên đến bậc trên cùng của lầu một. Chúng tôi phải nhớ con số nầy để mỗi khi đi học đêm về khỏi bị vấp ngã.

Lớp tôi học là lớp đệ Ngũ C, năm đó trường chỉ có ba lớp đệ ngũ, A-B và C. Lớp Đệ Tứ chỉ có hai lớp A và B. Trường không có lớp đệ Tam, trường phải gởi ra ngoài học chung với các học sinh trường Trung Học Vũng Tàu, sáng đi học các anh được chở đi bằng xe Dodge 4, buổi trưa về lại trường, tôi còn nhớ tên một vài anh lúc đó như anh Nguyễn tâm Hồng và luôn luôn có một người đi “quá giang” xe nầy đi học ở trường Trung Học Vũng Tàu, đó là cô Hương, cháu gái của bà Nguyệt. Niên khóa 62- 63, trường mới mở lớp đệ Tam và sau đó là lớp đệ Nhị rồi mở lớp đệ Nhất niên khóa 63-64, nên việc gởi học sinh ra ngoài trường Trung Học Vũng Tàu cũng không còn.

Những ngày đó . . . Ngày Tựu Trường, đối với anh em AET chúng ta thường gọi là Ngày Tựu Trường. Ngày đó, buổi sáng đó luôn luôn là hình ảnh của bà Nguyệt đứng ở trước Bệnh Xá của Trường với cái áo trắng y tá. Bà là hình ảnh Người Mẹ thân yêu của tất cả anh em chúng ta, buổi sáng ngày hôm đó Bà luôn luôn đứng trước bệnh xá, vui cười với tất cả các lớp nhỏ ở tiểu đoàn 2, xếp hàng đi ngang bệnh xá trên đường đến lớp ở bên lầu Văn Hóa, nụ cười và dáng dấp hiền hòa của Bà, mà mọi anh em chúng ta cho đến cuối đời của mỗi người rất khó mà quên được. Bà ở bên Trại Cô Giang, phía đối diện hơi chếch với cổng trường, mỗi khi có những trường hợp cấp cứu hay khẩn cấp từ đó bà chạy sang rất nhanh. Nhắc đến bà, tôi lại nhớ đến Từ xuân Điệp. Điệp học cùng lớp với tôi năm đệ Tam, đệ Nhị và Đệ Nhất. Điệp có cô em gái là Hương và một người chị, người chị về sau kết hôn với anh Nguyễn-quang-Mông, cũng là một AET. Anh Mông, sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm ban Anh Văn có trở về trường dạy lại cho lớp đệ Nhị và đệ Nhất. Điệp về sau đi Không Quân, Năm học đệ Ngũ và đệ Tứ, Điệp học lớp đệ Ngũ và Tứ A cùng với Lai đình Quyền, Phạm văn Xuất, Ngô Cữu, lớp A nầy toàn là thứ dữ!

Ngày Khai Trường - Vị Chỉ Huy Trưởng lúc đó là Thiếu Tá Phan Như Hiên, ông luôn luôn chủ tọa buổi chào cờ đầu năm học ở sân banh lớn trước lầu tiểu đoàn I, trước khi các lớp xếp hàng di chuyển sang Lầu Văn Hóa vào lớp học. Ông có người em ruột là Phan văn Phổ, học trên tôi một lớp. Anh Phổ, học chung lớp với các anh Võ kim Điền, Bùi Bồn, Lê Thăng, Hồ Sắc, Chu Mạnh Bích, Nguyễn Bích, anh Nhữ văn Phúc, anh Phạm công Cẩn, Trầm đức Nhuận, Nguyễn văn Thành, Ngô thế Hào, anh Phạm thái Hóa..., và anh Thảo lùn, học cùng lớp đệ Tứ A,với anh Chu mạnh Bích, anh Trầm đức Nhuận niên khóa 60-61. Anh Thảo là người luôn luôn đi hàng chuẩn trong các kỳ diển binh tại SàiGòn của trường Thiếu Sinh Quân.

Ngày khai trường- những ngày đó, luôn luôn là những ngày thật đáng nhớ, sách vở mới cũng được cấp phát vào những ngày đó, sách là những sách cũ của các lớp đàn anh học năm trước đó để lại cho lớp đàn em. Niềm vui trong những ngày đó là mỗi người được có một số tiền khá khá, đó là tiền ăn của ba tháng hè mà mỗi người được nhà trường hoàn trả. Anh em có tiền đi phố mua sắm thêm những thứ cần thiết khác. Tiệm Photo Kim Phượng ở bên hông chợ Vũng Tàu là tiệm có nhiều liên hệ và kỷ niệm với trường nhiều nhất, trong các “học sinh ngoại trú” của trường niên khóa 63-64 lớp đệ Nhất, có anh Kim Sơn là con của tiệm Photo Kim Phượng, có con của thầy Viết cũng học ngoại trú.

Ban giảng huấn của trường, năm 1960, trưởng Ban Văn Hóa là Đại uý Châu văn Độ- thường chúng ta gọi là thầy Độ, những năm đó có một số anh AET sau khi học các lớp đệ nhất ở Sài Gòn và đỗ Tú Tài II, trở về trường để chờ đi học trường Võ Bị, các anh được mang cấp bậc Thượng Sĩ và dạy học lại cho các lớp đàn em nhỏ, như anh Lê văn Phẫm, anh Phương (dạy Sử Địa), anh Biên, anh Huân . . . Trước đó chương trình vào học Đại Học Sư Phạm của các Cựu Thiếu Sinh Quân đã bị hũy bỏ. Sau thầy Độ, Trưởng Ban Văn Hóa là Đại Úy Nguyễn xuân Tiên, niên khóa 63-64, 64-65 trường có các anh như Vũ văn Dũng, Nguyễn quang Mông, Đỗ xuân Thảo, Nguyễn văn Toan, anh Di, anh Lê văn Hai (dạy Lý Hóa), anh Lê Thương và anh Trần thế Tùng dạy Việt văn đều là những anh đã tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm và về trường dạy lại cho các lớp đàn em. Cùng với những anh nầy, trường cũng có những giáo sư động viên từ trường Bộ Binh Thủ Đức về dạy như Thầy Bùi Đăng Hòa dạy Toán- thầy Hoàng minh Mai dạy Toán, thầy Luận dạy Pháp Văn, thầy Trần đình Ngữ dạy Lý Hóa, thầy Thành (dạy Vạn Vật năm đệ nhất các niên khóa 63-64-65. Thầy Thành và thầy Tiên nguyên là Sĩ Quan Quân Y) . . . Niên khóa 1963-1964, trường mở lớp đệ Nhất, năm nầy trường có mời Cha Linh Mục Nguyễn văn Liêm, thuộc dòng Đa Minh vào dạy môn Triết - Có những mùa Hè, một số đến tuổi 16 phải học Chứng Chỉ I Căn Bản Quân Sự, anh em chúng ta thường gọi tắt là CC I (Xê- Xê - một), năm đó chỉ được đi phép hè 15 ngày, sau đó phải trở lại trường để học lớp quân sự nầy.

. . . Ngày Khai Giảng, sau phần Lễ Chào Quốc Kỳ đầu năm, cũng là Ngày Phát Phần Thưởng của trường, cho các học sinh học giỏi trong năm qua. Niên học 1959-1960, “Thượng Sĩ Giả Định” của Trường là anh Chu mạnh Bích, sau đó là anh Nguyễn thành Long, anh Long có người em ruột là Nguyễn bảo Sơn, học cùng lớp với tôi. “Trung Sĩ Nhất Giả Định” là anh Phạm thái Hóa. Nhắc đến chữ “Giả Định”, chắc anh em chúng ta không ai không nhớ đến ý nghĩa của nó và những kỷ niệm nầy chỉ có ở dưới mái trường Thiếu Sinh Quân thân yêu của chúng ta. Sau Lễ Phát Phần Thưởng, quan khách chủ tọa buổi lễ thường là Đại Tướng Lê văn Tỵ, sau năm đó là Trung Tướng Nguyễn văn Là, được hướng dẫn đi thăm Phòng Khánh Tiết của trường, bên hông của Lầu Tiểu Đoàn I, trong đó có các bảng đồng đề tên các anh em học giỏi thuộc tất cả các lớp từ “Binh Nhất Giả Định” đến cao nhất trường là “Thượng Sĩ Giả Định”. Niên khóa 1962-1963, Thượng Sĩ Giả Định” của trường là anh Nguyễn đinh Thiện, sau đó là Phạm huy Hy. Những ngày nầy, phần ăn ở phạn xá thường được tăng thêm rất nhiều. Cũng trong những ngày đầu năm nầy những anh nào đến tuổi 18 ra trường sẽ theo học lớp CC 2 (Chứng chỉ 2 Căn bản Bộ Binh). Năm tôi học lớp đệ Tứ C, lớp tôi có Nguyễn văn Xuân tự Xuân Lùn, người nổi tiếng trong trường, cuối năm đó sau khi học xong lớp CC 2 anh ra trường nhưng sau đó được nhà trường giữ lại một thời gian để làm Cán Bộ trông coi đàn em, anh gốc người Huế. Cùng lớp tôi cũng có một vài anh lớn tuổi khác nhưng học giỏi và được cho học tiếp như anh Trần Kim Hoàng, sau khi học hết lớp đệ nhất B, anh đi Không quân ngành cơ khí, điều nầy để khuyến khích các anh học. Có anh Nguyễn đình Thật cùng học với tôi lớp Đệ Ngũ C, khi đó cán bộ trung đội trưởng là anh AET Đào Thanh. Niên khóa 1964-65 trường dời sang trường Tuyền Tin Vũng Tàu, trường không còn rộng rãi và tiện nghi như trường cũ, lúc đó Chỉ Huy Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Lũy, sau là Đại Tá Huỳnh văn Tư, nguyên cũng là một AET. Năm học 1964-65, lớp Đệ Nhất A và B tôi còn nhớ đến các anh Nguyễn văn Sinh, Nguyễn ngọc Châu, Võ bữu Khai, Phạm huy Hy, Vũ công Thành, Nghiêm doãn Minh, Nguyễn thanh Hứa, Nguyễn đình Thiện, Nguyễn tài Mai... và còn biết bao nhiêu người nữa cùng mái trường thân yêu, nay... không biết tất cả ở phương nào? Như hai câu cuối trong bài thơ “Ông Đồ” của nhà thơ Vũ đình Liên: Những người muôn năm cũ / Hồn ở đâu bây giờ . . .

Mới đó, mà đã nửa thế kỷ trôi qua . . . bao nhiêu là biến đổi của thời gian, của đất nước, của con người, những ai còn ai mất trong dòng chảy của quãng thời gian đó, một số rất ít các anh, tôi còn dịp gặp lại . . . Tất cả những năm 1960, 1970, 1980, 1990, 2000, đều để mặc thời gian qua đi. Cuối cùng, hôm nay, những ngày cuối cùng của năm 2009, nhìn lại những tấm ảnh ngày xưa, bao nhiêu là kỷ niệm và hình ảnh cũ hiện về, mới biết rằng những hình ảnh nầy, cái quá khứ quá tuyệt vời và êm đềm nầy, tôi vẫn đem theo trong suốt những năm tháng đó, cho mãi tới tận ngày hôm nay . . . và nó sẽ theo tôi suốt quãng đời còn lại nầy.

Nguyễn văn Sơn

| ↑Top of page ↑ |