Một Lần Về Thăm

CTSQ 1802

truong_tsq_vt

Năm 1973 tôi có dịp trở lại Vũng Tàu sau ngót bảy năm xa thị trấn duyên hải nhỏ bé đó. Ngôi trường Thiếu sinh quân thân yêu đã có những thay đổi, nhưng những cơ sở căn bản, từ hai dãy lầu của tiểu đoàn đến khu văn hóa và, đặc biệt là nhà ăn, vẫn còn như cũ. Thời gian với nét rêu phong nào đó như có tô đậm những mái ngói, những bức tường vôi, những thân cây cổ thụ, nhưng trong tôi, kỷ niệm của sáu năm quân trường như đang sống lại mãnh liệt, đầy ắp và linh động.

Tôi như có thể nghe ngót ba chục cặp chân với giày, dép và cả . . . chân trần của trung đội lớp nhất đang nện đều trong bụi mù, ngang khu chiến tranh chính trị. Với thân thể thiếu kích thước, hồi đó tôi là một trong ba đứa đứng đầu của trung đội. Tôi cũng nghe có tiếng quát tháo của thằng Hùng “Xùi” trưởng lớp bên tai khi lớp đệ ngũ B đang bước loạn xạ qua khu văn hóa. Lúc bấy giờ tôi đã là một thiếu niên vạm vỡ, lớn vượt hẳn những bạn cùng lớp. Tôi vẫn đi hàng đầu vì lối xếp hàng của TSQ đã thay đổi theo truyền thống chung của quân lực: cao trước, thấp sau.

Rặng núi lớn hùng vĩ, xanh rì phía sau vẫn như ngày nào với những ăng ten ẩn hiện của đài vi ba trên đỉnh. Lưng chừng sườn núi là nhà máy nước nơi chúng tôi vẫn thường lén lút lên tắm, mặc dù sau đó lãnh một trận đòn trước sân tiểu đoàn. Hạ sĩ quan cán bộ chỉ việc chờ sẵn bên trong hàng rào, hò hét, điểm mặt, xua những đứa mới nhảy xuống vào chỗ tập trung. Quần áo ướt sũng, có đứa run lập cập, có lẽ không phải vì lạnh mà vì cái giá 20 roi mây (nhất là khi người cầm roi lại là anh Hoán, SQ tiểu đoàn trưởng) sắp sửa phải trả trong giờ tập họp ăn cơm chiều. Trong những kẻ xấu số đó, ngoài những tay chơi thể thao, bóng tròn giỏi nhất (Phạm Ngọc Tản, Y Đô chẳng hạn) là những đứa chậm chạp, yếu đuối, chưa kịp xối nước cho trôi xà phòng trong giờ tắm. Hai năm đầu ở quân trường tôi vốn là một trong những . . . nạn nhân nhảy rào thường trực chỉ vì thiếu thước tấc và chậm chạp: lúc bấy giờ hồ nước Tây để lại ở tầng trệt vẫn còn cái thành cao nghệu mà kẻ nhỏ con, thấp lùn phải nằm trườn lên cái thanh ngang, ngực đỏ rần mới vực được cái xô xướng nước. Khi cửa phòng tắm vừa mở, cả mấy trăm đứa cũng ùa vào như bầy ong vỡ tổ, xối lấy, xối để xối cho lẹ truớc khi nước thành màu trắng đục vì xà phòng. Nhiều khi nước xuống quá thấp thì còn vớt được cả giun con ở đáy hồ.

Tôi có thằng bạn tên Lê Ty (về sau này “Lê Ty” trở thành một tính từ khá phổ thông trong TSQ để ám chỉ những đấng có tính kẹo, chi ly) mỗi khi vò xong quần áo nó thường giả vờ tuột tay, thả luôn vô trong hồ: Thực ra Ty có lý do của riêng hắn. Lúc bấy giờ tôi vốn đã thấp, Ty còn thấp hơn nữa. Anh ruột của Lê Ty là Lê Thảo, một hảo thủ bóng tròn. Cả hai là cháu của Lê Thiện, sau này là một sĩ quan hải quân. Tội nghiệp hơn nữa, cũng chuyện tắm rửa, là người anh em tên Nguyễn Rô, nó vốn đầu to, nhưng thân hình thì mảnh khảnh, yếu đuối kiểu “Mình hạc xương mai”. Hắn không bao giờ dám chờ sẵn cửa phòng tắm để chen vào. Cũng may cho Rô, hắn có . . . cốt cách của một “em tơ” nên vẫn thường được những mạnh thường quân hộ tống để chen vào phòng tắm đúng lúc, trước khi nước cạn. Rô là em ruột của Nguyễn Ri, người cao lểnh khểnh, da có vẩy như da cá.

Cái xô, cái muỗng, đôi dép lúc bấy giờ là những món quan trọng và dễ mất nhất. Cái xô, ngoài khi tắm giặt còn được dùng để tích trữ nước uống sau cơm chiều. Cái muỗng ăn cơm thì lúc nào cũng thủ sẵn trong túi quần hoặc khóa thật kỹ trong tủ, muỗng gãy cán vẫn được xử dụng tận tình vì nếu thiếu nó thì chỉ còn nước ăn bốc. Tới giờ cơm mà tìm không thấy cái muỗng là kể như . . . đời tàn hôm đó. Đôi dép là một thứ gia bảo khác, dép bị đứt quai khi người anh em hàng sau bước sai nhịp, lỡ dẫm lên hoặc khi chen lấn lúc tắm, dép đủ màu, đủ kiểu, dép đứt quai cột dây, dép cọc cạch vẫn còn được xài một cách tận tình. Không có dép thì chỉ còn nước ca bài “Chân trần trên sỏi đá” mà thôi. Buổi sáng thức dậy, mắt nhắm, mắt mở quơ chân thấy sàn gạch lạnh trơn là biết đã . . . xong rồi. Đôi khi chỉ có một chiếc mất tích. Về sau này TSQ được phát giày bata (không vớ) thì nạn mất giày càng thêm trầm trọng hơn nữa. Dép chỉ được mang buổi tối, giờ tự học, và ban ngày với điều kiện chân được bà Nguyệt, cho băng bó. Có những đôi giày, giữa trưa hè oi ả, chỉ cần để lên thành cửa sổ là cả phòng mất ngủ vì cái mùi nặng, đến nhức đầu tỏa ra. Mặc dầu vậy, đa số những đôi giày bata, kể cả rách mòn, tơi tả, mất dây vẫn được săn sóc một cách cẩn thận và thường được giấu dưới đầu giường khi ngủ. Đầu giường là nơi chắc ăn nhất vì nạn nhân sẽ khám phá ra ngay nếu có đứa định giở “bàn tay nhám”.

“Anh cho xem thẻ căn cước”, người lính gác cổng nhắc thêm một lần nữa, kéo tôi về thực tại. Chợt nhớ mình đang mặc đồ xivin, tôi tự giới thiệu là cựu TSQ, cần đến khu văn hóa lấy học bạ. “Thượng . . . sĩ còn nhớ đường đến đó, . . . chứ?” Người lính già hơi ngập ngừng khi gọi tôi bằng cấp bậc (có lẽ vì mặt mình còn quá trẻ). Bỏ lại tờ căn cước trong bóp tôi cười nói ông đừng lo, nhắm mắt cũng đi được mà.

Dãy nhà chiến tranh chính trị vẫn ở chỗ cũ, nhưng có phần khang trang hơn với phòng tiếp tân riêng biệt, dành cho thân nhân TSQ khi đến thăm viếng. Tất cả đều như thật im lặng dành cho tiếng ve sầu thi nhau hòa nhạc dước cái nắng gay gắt của buổi trưa. Bây giờ là mùa hè, có lẽ chỉ còn mấy lớp sắp thi trung học hoặc tú tài ở lại trường. Sân đá banh lớn và cũng là vũ đình trường, cỏ mọc cao nghệu. Đây là nơi hàng năm lễ phát phần thưởng, khai mạc niên học mới được tổ chức, và cũng là chỗ tập trung chào cờ mỗi sáng thứ hai. Đó cũng là nơi TSQ thường thả bộ hoặc dợt banh buổi chiều hay ngày cuối tuần, trong khi loa phóng thanh từ phòng CTCT oang oang giọng Hoàng Oanh (dường như ban CTCT chỉ có đĩa nhạc Hoàng Oanh).

Cuối năm 1964, người Mỹ lấy ngôi trường ấy để biến cải thành khu an dưỡng cho quân đội đồng minh. Bộ chỉ huy trưởng và TSQ phải dọn qua trường truyền tin Vũng Tàu, một cơ sở với nhiều dãy nhà thấp, nhỏ nằm trên cát mênh nông. Thật vậy, chung quanh chỉ có cát trộn lẫn với mảnh vụn rỉ sét, sắc cạnh của những tấm vỉ sắt cũ lót đường, rải rác khắp nơi do Tây để lại. Hầu hết TSQ đều phải đi bệnh xá để băng chân. Ở đây vấn đề tắm rửa được giải quyết dễ dàng vì gần sau trường là con sông chảy ngang, từ Cát Lái đổ ra biển. Muốn tắm chỉ cần men theo nhà cầu lộ thiên, lặn chui dưới bức rào phòng thủ mong manh và lớp phân người, xong vượt một khu rừng bần, đước nhỏ là ra tới bờ sông. Không xa trường mấy là căn cứ hải quân, có lẽ cũng vì vậy mà năm đó đi phép Tết và hè, TSQ được về Sàigòn bằng tàu thủy. Tôi vẫn thích đi đường bộ do quân vận cung cấp phương tiện. Đôi khi ngoài bộ binh mở đường và hộ tống, còn có phi cơ thám thính bay trên đầu để đề phòng phục kích.

Hơn một năm sau, sau khi ngôi trường cũ được sữa chữa, tân trang, vì lý do gì đó, quân đội đồng minh bỏ ý định xử dụng, chúng tôi lại dọn về với niềm hân hoan khôn tả. Năm ấy, khai giảng niên học mới cũng là ngày đại hội TSQ toàn quốc. AET khắp nơi trở về với đủ màu áo quân, binh, chủng và đủ thứ cấp bậc. Chúng tôi hiểu đã có những đàn anh cao cấp vận động, can thiệp mạnh với bộ TTM nên số AET trở về trường thật đông. Khi đó anh Có còn đang là một nhân vật quan trọng của nội các chiến tranh. Trong bộ đồ dù, đồ TQLC, biệt động, đồ bay với cái mũ đội lệch trên đầu các anh kể lại những trận đánh cùng kinh nghiệm chiến trường. Có mấy anh thầm lặng hơn, trong bộ đồ dạ hải quân với kim tuyến vằn vện ở cổ tay, nói khi về đơn vị sông ngòi, các anh sẽ phải thay đồ bà ba đen, lính cũng như quan, hành quân trên những sông, rạch của vùng Đồng Tháp hoặc mật khu U Minh nơi có những con rạch nhỏ đến nỗi VC có thể ném lựu đạn từ bờ lên tàu. Chúng tôi ngắm nhìn, say sưa lắng nghe các anh một cách thán phục. Hình ảnh một chàng trung sĩ trẻ măng như đã nhạt nhòa để nhường cho những nai vàng, mai trắng rực rỡ trong tâm khảm. Tờ đặc san quân trường năm đó cũng khởi sắc vô cùng với sự đóng góp, yểm trợ tận tình của quý thầy và các đàn anh giáo sư.

Thời gian qua đi, trí nhớ nhạt nhòa, tôi có thể đã quên tên một số thầy, nhưng vẫn còn nhận diện được nếu gặp lại. Từ một cụ Viết hiền từ, dạy Hán văn đến một giáo sư Anh văn nghiêm khắc như anh Thành (lúc bấy giờ còn đeo lon trung sĩ), tôi còn nhớ rất rõ, cụ Viết không bao giờ la rầy, cụ luôn luôn nhỏ nhẹ, giảng giải và khuyên răn. Tôi vốn sợ những chữ Hán ngoằn ngoèo, khó nhớ nhưng lại rất thích giờ Hán văn của cụ vì đôi khi đã xong bài vở, cụ cho phép được mở sách toán, vạn vật . . . ra ôn cho giờ kế tiếp. Anh Thành thì luôn luôn cho “two marks”! Anh rất lạ, hay tại chúng tôi quá dở, nên bài làm giỏi đến đâu cũng chỉ được 12/20, và những bài tập có nộp, làm lem nhem đều được hai điểm cùng vài roi mây ngay trong lớp.

Năm 70 tình cờ tôi gặp lại anh tại Nha Trang sau khi suýt đụng độ với đàn em của anh tại một quán rượu. Lúc đó anh đã đóng lon đại úy, vừa tốt nghiệp kỹ sư ở Mỹ về, làm sĩ quan tham mưu của trường HSQ Đồng Đế. Thầy Nghiệp dạy vẽ mới thực là khó. Nay chiếc dép, mai các tách, đứa giỏi nhất cũng không thể làm thầy hài lòng. Có lần vẽ cái giày, chúng tôi được mang về làm vì không đủ giờ. Thật là dịp may hiếm có cho những đứa vẽ dở, chỉ việc “cóp” những tên khá hơn là có được một tác phẩm đủ xài. Ai có ngờ đâu, cả chục đứa bị ăn roi mây vì không thể có hai bản vẽ giống nhau được khi nhìn đổi vật từ hai vị trí khác nhau. “Trò ở giữa lớp thì chỉ thấy gót và đế giày... làm sao vẽ được mũi và dây!” hoặc, “còn trò, trò ngồi ở đây tức là bên trái sao trò vẽ được bên mặt!”

Thời gian ở trường truyền tin, chúng tôi học Anh văn với anh Mông. Anh vốn người Bắc, nhỏ nhẹ và hâm mộ văn chương. Khổ cho chúng tôi, anh thích Tự lực Văn đoàn. Thế nên những bài tập chuyển ngữ anh thường trích ra từ những tác phẩm của Khái Hưng, Nhất Linh . . . Văn chương Tự lực văn đoàn vốn đã khó để mà phỏng theo bằng tiếng Việt, huống chi là tiếng Anh. Chẳng hạn, “Thầy nó... không ăn thuốc nữa, sao?” Nếu dịch từng chữ thì ý nghĩa hoàn toàn lệch lạc. Đó là câu nói của người vợ miền quê ở tỉnh Thái Bình, Nam Định gì đó, hỏi chồng sao không hút thuốc (lào) nữa. Mấy tên bạn tôi, vốn sinh trưởng ở Sóc Trăng, Rạch Giá lại càng không tài nào hiểu nổi.

Tôi còn nhớ tên một số giáo sư khác như thầy Bùi Đăng Hòa (toán), anh Phong và anh Ri (Việt Văn), anh Ý (Công dân), anh Thông (Toán) anh Toan (lý hóa), anh Thảo (sử địa), anh Thương (toán), thầy Hoa (toán), thầy Cường (toán) và anh Hải (việt văn), thầy Chỉnh (pháp văn), anh Hai (lý hóa). Hồi đó anh Toan kiêm nhiệm chức vụ văn hóa vụ trưởng thay cho đại úy Độ. Anh có dáng dấp của một thư sinh hơn là thần tượng lực sĩ như anh Thục, Xinh. Gặp những đứa cứng đầu (đầu cứng thực sự như Khải “Lùn”) tay anh bị nẩy như chạm phải đá khi vả chúng. Có lẽ đau buốt lắm, anh giận, ném phấn, bước ra khỏi lớp. Thầy Hòa thì lại có một đặc điểm khác, Dường như thầy không ưa những đứa đeo kính cận. Sở dĩ tôi đoán như thế là vì tôi được thầy chiếu cố thường xuyên mỗi khi giải toán “homework”. Chẳng hạn, “chúng ta sẽ được X . . . bằng mấy?” Thầy chỉ tôi, và khi nhận được câu trả lời sai, thầy chậm rãi, bước tới nói: “Cậu . . . gỡ kính ra!” Mắt tôi hoa lên, đầu choáng váng sau mấy cái tát tai nẩy lửa. Sau đó người anh em trưởng lớp được lệnh dẫn tôi đi, khi thì xuống lớp nhì ngồi với đám TSQ tiểu học, khi thì ra quỳ bên lu nước dưới hàng cây, trước khu văn hóa. Tuy vậy tôi chưa bị thầy cho ăn roi mây như đàn anh Võ Bửu Khai. Có một lần Khai được . . . trưng bày ở thềm lầu hai với mỗi cái quần sọc trên người. Từ vai xuống lưng, trên thân thể lực sĩ của hắn là những vết roi tím, nâu chằng chịt . . .

Vừa bước qua khỏi kho vũ khí, nhà tù là khu văn hóa nằm giữa những cây cổ thụ. Cái garage cũ của Tây để lại bên cạnh kho quân trang, đã được biến cải lại làm chỗ ở cho đại đội CCI. Khi đó khóa CC2 không còn được tổ chức tại trường nữa, nên lúc ra trường TSQ chỉ mang lon hạ sĩ nhất ba chữ vẽ (Một trắng, hai vàng) mà thôi. Mấy cây bàng già như có rậm lá hơn trong cái yên lặng của buổi trưa hè. Bên kia cái cổng sắt không bao giờ mở, là con đường dẫn xuống thị xã Vũng Tàu, và thấp thoáng bên trong nhà xác quân y viện, vẫn có những bóng dáng đàn bà, trẻ con. Chiến tranh vẫn chưa chấm dứt trên quê hương này sau bao cuộc hòa đàm, ngưng bắn. Chúng tôi hay đeo lên bệ xi măng của bức rào bên này để nhìn rõ hơn phía bên kia khi cái xe có dấu hồng thập tự đỏ tấp vô nhà xác. Đôi khi tôi tưởng tượng mình là người mặc bộ đồ vằn vện TQLC phủ dưới lá cờ vàng. Bên cạnh hẳn là mẹ tôi, hết nước mắt, giọng khan, cổ đặc vẫn gục đầu bên xác con kể lể. Tự dưng lòng mình se thắt, khóe mắt cay cay. Có ai muốn chết đâu, nhưng ai biết được ngày mai sẽ ra sao. Dường như tôi chưa bao giờ tự hỏi mình mơ ước gì và dự phóng gì cho tương lai. Có bao nhiêu người lính nghĩ đến tương lai ngoài một giấc ngủ, một tô phở khi về thành phố. Tôi chỉ tưởng tượng một ngày nào đó bình yên, trở về căn nhà gia binh, tồi tàn ở miệt Hạnh Thông Tây, ngủ vùi và nghe tiếng chổi quét sân buổi sáng sớm của mẹ. Mẹ sẽ yên tâm, mẹ sẽ biết chắc ở góc nhà đó, mấy đứa con trai của mẹ còn quấn trong chăn như loài sâu, sợ cái lạnh mùa Đông. Sau đó, mẹ sẽ nhẹ nhàng đóng cánh cửa, ra chợ mua ít xôi, bánh mì làm quà sáng khi chúng tôi thức dậy . . . Mày làm gì ở đây? Tôi giật mình sau cái vỗ vai. Thì ra là anh Hội. Anh vẫn làm ở ban văn hóa, trông coi cái thư viện và hồ sơ TSQ. Hầu hết chúng tôi rất quý mến anh vì anh xuề xòa, dễ dãi khi cho mượn sách truyện thư viện. Trả sách trễ, anh chỉ cằn nhằn, sách bị gập long bìa, anh chỉ cằn nhằn, khen anh đẹp trai, anh cũng chỉ cằn nhằn. Anh Hội dẫn tôi đến văn phòng văn hóa vụ truờng, anh Thương đã thay anh Toan trong chức vụ này. Không gặp anh Thương, chúng tôi đi vòng ra phía sau, nơi tàng trữ hồ sơ, phiếu điểm, học bạ của từng TSQ. Chỉ cần anh Hội cho biết tên, học bạ lớp mấy, năm nào là anh có thể lôi ra ngay. Anh nheo mắt hỏi lấy học bạ làm gì. Tôi cười nói để bổ túc hồ sơ đi học khóa sĩ quan đặc biệt. Hội phá lên cười hề hề, vỗ vai tôi nói lại thêm chú mày qua mặt anh rồi đấy! Tôi cười theo xúc động. Phải, tôi và nhiều TSQ khác đã vượt qua anh trên bước đường binh nghiệp. Khi ra trường tôi mang lon trung sĩ cũng như anh, bảy năm sau trở về tôi đã móc lon thượng sĩ trong khi anh mới vồ được cái trung sĩ nhất. Nhưng tôi vẫn gọi anh là “anh”. Truyền thống của TSQ là ở đó, lối xưng hô chan chứa tình người ngoài tinh thần “Huynh đệ Chi binh” thông thường của quân lực. Như có lần tôi gặp lại anh Ý, anh Thông ở Bến Chương Dương, Sàigòn. Lúc đó cả hai đều đã mang thiếu tá hải quân. Anh Ý là trưởng phòng truyền tin, BTL, anh Thương là sĩ quan hạm phó chiếc tuần dương hạm mới nhất của hải quân. Cả hai hơi ngạc nhiên lúc đầu, nhưng chợt nhân ra ngay mối dây thân ái qua tiếng “anh” , “em” mặc dù tôi không đeo ăng xin AET tên bộ đồ quân phục của mình. Anh Hội nhắn lần sau nếu có nhiều thời giờ hơn anh sẽ đãi một chầu. Tôi nghiêm chỉnh giơ tay chào anh trước khi đi.

Buổi chiều hôm ấy khi chiếc xe đò đã chạy xa, tôi vẫn còn ráng ngoái trông cho đến khi cổng trường khuất sau khúc quanh với mong ước, một ngày nào đó trở lại, ghé thăm anh Hội như đã hứa. Tôi cũng mong một lần về trường cũ, như một AET, đem kinh nghiệm dìu dắt đám đàn em. Bây giờ, hai mươi năm sau, tự hỏi mình cò còn ấp ủ hoài bảo của tuổi trẻ, hay cũng như những kỷ niệm vụn vặt, phai nhạt dần theo thời gian. Tôi như còn thấy đom đóm lập lòe trong mắt sau cái tát tai của thầy Hòa, và tôi biết rõ mình muuốn gì. Tôi muốn sống lại một ngày như thế, để thấy hình phạt thầy ban là một ân sủng, tôi không bao giờ có nữa trong đời mình.

| ↑Top of page ↑ |