Hàng cây còn lại.

CTSQ Nguyễn Đình Ngọc, sq 4834. Sydney, 01/12/10

mai_truong_xua Trên toàn cõi miền nam Việt Nam, hễ là trường, dù là quân trường hay trường trung học thì không thể sánh với trường tụi tôi về mặt khang trang đẹp đẽ, nhất định và chắc chắn là như rứa! Dà, nói thiệt à nghe, tôi chưa kịp đi học pháo binh nên không có biết nổ.

Đồng ý là trường Trưng Vương cũng tình tứ thiệt, nhưng nổi tiếng bởi những tà áo dài thướt tha và bài ‘Trưng Vương khung cửa mùa thu’, nhưng nào có chi mà danh giá: Nam Lộc hổng chừng ngày đó mơ mộng cô học sinh Trưng Vương nên mượn tạm bài "Tell Laura I love her" của tụi phiên bang mũi lõ đặng kiếm điểm (ai biểu không có người đẹp Trưng Vương nào để ý tụi tôi chi!).

Dĩ nhiên không thể so sánh với các thứ ‘trường’ mà không có huấn luyện hay dạy dỗ gì ráo như trường . . . đua ngựa. Mặt khác, nhắc tới trường, người ta luận về thành quả, mức độ cống hiến cho xã hội v.v . . .

Mới nhắc tới khía cạnh này mà người tôi hừng hực, hào khí bừng bừng, bèn mượn một câu của cụ Nguyễn nhà mình: "Sắc đành đòi một, tài đành họa hai." mới có thể diễn đạt được trường tôi.

Đang phấn khích khua tay múa mỏ bỗng dưng tôi xìu xẹp tựa bánh phồng tôm nhúng nước; nhắc tới cụ, thì cụ còn y đó chớ đâu: "Có tài mà cậy chi tài!" khiến tôi hổng cẳng, chới với, phải nghe lời cụ răn đe cho ra người hiểu chuyện, nên chỉ dám mạn bàn phần dung nhan, tức là vế "Sắc đành đòi một" mà thôi.

Chính danh thì tới ngày 29/4/75 bọn tôi thuộc "thế hệ sau cùng" nên còn ở trong trường, bị học chưa xong, tuổi đời chưa tới, nói đúng ra là chưa đầy vi đủ cánh. Đùng một cái, xế trưa 29/4 năm đó đại úy Phương (?) lên micro tuyên bố:
Các em tự lo lấy thân, tản hàng.

Lần đầu tiên tôi nghe cán bộ ra lệnh "tản hàng" mà không có thằng nào trong tụi tôi gân cổ lên, ém hơi xuống rún thét lớn: "Cố gắng!" thì cũng là lần tụi tôi, thế hệ sau cùng bị ra trường tập thể bằng cổng . . . sau!

Có nghĩa là không còn chuyện vinh qui bái tổ, lon lá về trường được nữa. Chính vì tụi tôi mới chớm mười bảy, mười tám đổ xuống, chưa có kịp "dế mèn phiêu lưu" thì cơ sự xảy ra, cho nên tôi đâu có được đặt chân tới đâu để mắt thấy những trường khác mà so sánh!

Đến các trường trung học ở ngay thị xã mà nhiều đứa tụi tôi còn không biết tới mặt mũi ra sao nữa là! Bởi tại chỉ thứ bảy và chúa nhật tụi tôi mới được đi phép ra ngoài, đã là cuối tuần thì tụi tôi nào có thiết tha gì tới cái phần trường ốc trơ gỗ đá đó nữa! khi mà phần mềm mại uyển chuyển óng mượt như tơ trời là mái tóc dài dài hay demi gaξon đà vắng bóng.

Dà, thứ mà tụi tôi đêm mơ mộng, ngày tưởng nhớ đó, tiền thân là những lóng xườn thơm ngon, nay cải danh thành những cô học trò. Nhưng khổ nỗi vào giờ tươi hồng cuối tuần, những khúc xương xườn cụt đó hoặc đang ngồi chồm hổm ăn chè hay đang xin thêm chút mắm tôm rồi xì xụp chan húp bún riêu cua ngoài chợ hổng chừng! Có đó à nghe! Thành ra nói là mắt thấy thì tôi không dám vỗ ngực, chớ vụ tai nghe thì hà rầm.

Số là đàn anh tụi tôi khi ra trường, kẻ thích ngả nghiêng cánh chim, người lại khoái chiều nay ra khơi . . . Thỉnh thoảng đàn anh ghé về thăm trường là tụi tôi xúm vô hỏi han um sùm và ké . . . thuốc lá, nhiều đàn anh dẫn tụi tôi thẳng xuống câu lạc bộ, bị mới lãnh tiền đầu quân mà. Tôi để ý, về thăm lại trường, các đàn anh đều rộng lượng bao dung, rất lễ độ với cán bộ, mà còn khoái màn khuyên bảo đàn em:
-Tụi mày ráng, không học là ‘thua’, ngoài kia cà chớn lắm đó!
Có đàn anh thọc ngón cái lên trời:
-Trường mình là nhứt, không nơi nào sánh nổi.
À, thì ra bị đời nó đá lăn long lóc, mấy tuần huấn nhục nó quần xịt khói tai, nên các đàn anh biết đá rõ vàng!

Mặt tiền của trường hướng ra đường cái, lưng dựa vào chân núi, biển xa xa phía sau núi, những đêm tĩnh lặng tôi vẫn nhớ là nghe tiếng sóng vỗ ầm ì theo gió đưa về, địa thế thiệt là thơ mộng hết ý.

Nghe nói thoạt tiên trường là bệnh viện của người Pháp, các tòa lầu và tường bao quanh trường được xây bằng đá hộc xanh, kiên cố vững chắc mà đẹp đẽ vô cùng. Ngoài ba tòa kiến trúc chính và các tòa nhà phụ thuộc nhỏ hơn, trường còn thừa hưởng được, mà theo tôi, tôi quí và nhiều cảm tình với chúng nó hơn hết thảy; dĩ nhiên lòng yêu quí đó nảy sinh sau này, chớ hồi đó tụi tôi còn ở tuổi "Ăn chưa no, lo chưa tới"! Nào đã biết gì đâu.

Theo ý tôi, một tòa nhà nếu bị hư hao xụp đổ, bằng gắng sức người ta có thể xây dựng lại giống y hệt cái cũ nếu muốn. Nhưng thứ mà lòng tôi yêu quí đó có đời sống đàng hoàng, hễ đã kể là có đời sống thì có một yếu tố vô cùng quan trọng chi phối: yếu tố thời gian.

Với thời gian, khái niệm vô hình tướng đó người ta không thể nào thúc hối hay trì hoãn nó, mà chỉ có thể chờ đợi thôi. Dà, tôi không dám dông dài nữa, nhưng chắc chưa có ai đoán ra là thứ gì đâu, bởi tại chúng nó chỉ là những thứ tầm thường nhất: đó là những hàng cây. Phải, cây cối thì có gì đâu?

Người Pháp, theo cái nhìn thiển cận của tôi thì họ có lòng yêu cây cối vô cùng. Cứ nhìn vào những công trình kiến trúc công và tư của họ trên đất nước mình như các dinh điền trên Đà Lạt, những đồn điền cao su... Luôn luôn thấy cây cao bóng cả, rậm rạp xanh rì. Ngay cả những hàng cây cổ thụ thân thiệt là to trên những con đường lớn, cũ của Sài Gòn, trong những công viên, tôi tuy chưa tra cứu rõ, nhưng cũng dám nói là đều có bàn tay của người Pháp nhúng vào. Ôi quê hương, ngõ ngách nào cũng thấp thoáng bóng ngoại nhân.

Đó đây quanh khuôn viên trường có trồng nhiều dừa, thấp có cao có, những cây kế tường rào của mặt tiền trường thì cao vút có lẽ trồng đã lâu, hầu hết những cây ngoài này chĩu trái. Phía trong, như những cây quanh hội trường, vài cây cạnh nhà bàn, thì thấp hơn. Có thể những cây dừa thấp là do trồng sau, hay trồng lại, bởi vì tụi tôi phá quá nên nó thui chột đi chăng?

Tụi tôi gì thì dở chớ phá thì quỉ ma là chạy mặt tụi tôi hết á! Những cây còn nhiều trái nhờ chúng may mắn đứng gần "mặt trời"; văn phòng Chỉ huy Trưởng, Chỉ huy Phó, Ban quân số, Phòng tiếp tân, toàn là những trọng điểm cho các yếu nhân, tụi tôi có mà dám bén mảng tới đó rồi đa! Tuy nhiên những cây dừa chĩu trái nhờ dựa hơi yếu nhân đó không có nghĩa bất khả xâm phạm, vào mùa nghỉ hè, trường tôi được nghỉ 3 tháng, xả trại về nhà . . . ăn báo gia đình.

Trong những mùa hè đó có một số ít vì gia đình xa, nên ở lại trường. Ôi thôi, những chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt đó, bút với nghiên cũng lạc mất tiêu hồi nào rồi, ngày hai bữa đã có nhà bàn lo, nên rảnh rang vô công rỗi nghề, tay chân thừa thãi, thành ra ngay cả nho rừng trên núi lớn núi nhỏ xanh lè chua lét còn bị khều móc, nói chi đến những buồng dừa chĩu trái ngon ngọt vô cùng khêu gợi kia.

Tôi đặc biệt thích nhất là hàng cây trồng dọc hai bên con đường đâm xéo vào tiểu đoàn Quang Trung (Tiểu đoàn 4), mà một bên là sân banh nhỏ và mé kia là sân tennis của trường: đó là hai hàng cây Còng, tôi không biết đến tên khoa học, tên cúng cơm gì gì của chúng, chỉ theo bạn bè gọi chúng là cây Còng! Có thể là do trái của nó hình dạng cong queo như trái me, nhưng tròn, to và dài hơn có màu đen thui. Thịt của trái vị ngọt ngọt, nhưng không hấp dẫn lắm nên bị chê. Độc đáo nhất vẫn là hột còng, nhỏ cỡ hột đậu xanh, vỏ màu đen.

Khi hạt còng được rang chín, tách cái vỏ ra, phần ruột bên trong bùi bùi béo béo thơm thơm, mà tôi không còn thấy ở bất cứ loại hạt nào sau này nữa. Nhưng phải cẩn thận, hạt còng sống, khi chưa rang, lầm lỡ mà nhai vào một hạt, một hạt thôi là đủ để chảy nước miếng trong, đau khổ nguyên ngày, bị hạt còng sống có acid khá mạnh. Tạm ngưng phần ăn uống thường phàm này.

Hai hàng Còng đó có lẽ cao tới 20 thước, lá nho nhỏ xanh mướt theo cành đan vào nhau trên cao che mát cả đoạn đường, thân cây màu xám đen to lớn mạnh mẽ, phía gốc lớn hơn khoe những cái rễ rắn rỏi bám sâu vào đất. Tôi không tưởng trường nào có đoạn đường áng chừng trăm thước nên thơ hết biết như rứa!

Phía trước dãy lầu của tiểu đoàn Hùng Vương (Tiểu đoàn 1) và Lê Lợi (Tiểu đoàn 2) có một hàng Dương, ngày trước còn lưng lửng, thỉnh thoảng lại được tỉa tròn. Dương thân mọc thẳng, cành và là cũng thẳng tuột vươn lên tượng trưng cho sự thẳng thắn, ngang tàng của nam nhi. Bên khu Văn Hóa trước dãy lầu có hàng bã đậu, thân cây có gai, cành và lá lưa thưa trống trải, bóng không che đủ mát. Rồi những dàn hoa giấy trước phòng khánh tiết, lối vào phòng ăn các tiểu đoàn, cây Phượng ở sân tập họp tiểu đoàn Lê Lợi, cây Bàng ở sân họp tiểu đoàn Ngô Quyền.

Đây mới chỉ là " nơi, chốn" cái vỏ bên ngoài . . . Nói nhớ trường, lại không thể nào xác định được đích thực là nhớ chi chi, chắc rằng không phải hoàn toàn nhớ những tòa kiến trúc nơi tụi tôi đã ăn, học, bởi vì chẳng có tay nào về trường mà chạy lại ôm mấy cái chân cầu thang rồi rưng rưng lệ! Cũng chưa có ai nhào tới mấy gốc Còng rù rì to nhỏ nỗi nhớ niềm thương! Hóa ra ‘nhớ trường’ còn mang ý khác.

Linh hồn của trường dĩ nhiên là tụi tôi, tụi tôi thuộc nhiều thế hệ, từ khắp các tỉnh thành của miền nam Việt Nam đổ về. Hiển nhiên là tôi chỉ quen biết với những người bạn cùng lúc chung thời. Những bạn tôi, có thằng bị ra trường sớm (chuyện ‘bị’ này nếu có thể nói được, tôi xin trình bày trong lần khác.) đã đăng Thủy quân lục chiến, rồi sau đó chết ở trận Cửa Việt 1973 (?).

Vì vậy mà bao nhiêu truyện, bài viết của ông nhà văn cựu trung úy Thủy quân lục chiến Cao Xuân Huy bị tôi lùng kiếm đọc ráo trọi, với chút hy vọng là may ra biết được chút xíu về cái chết của bạn mình (Bài này viết trước khi ông Cao mất.).

Những thằng có chút may mắn vượt thoát được, dĩ nhiên là tụi tôi tứ tán bốn phương trời; thằng ở châu Âu, dăm ba thằng ở xứ cờ hoa, còn mấy thằng lại lọt xuống miệt dưới ‘down under’. Những đứa còn tại quê nhà cũng tan tác khắp nơi: Dương Danh Quảng lạc đâu mãi trên AyunPa, ủa thị xã nào nghe như bên tây vậy cà? Có đâu! trên Gia lai đó thôi, mà sao tôi chưa nghe tới bao giờ. Rồi có đứa trôi nổi tuốt xuống tận những cái hẻo xa mù, ngăn sông cách chợ, lạc mất dấu vết bạn bè.

Ở những tỉnh lẻ xa đã vậy, mà ngay tại Sài Gòn, những đứa vì hoàn cảnh phải đổi dời thất lạc anh em như Hoàng Ngọc Quang bạn tôi, dù là ở Sài Gòn, vậy mà tụi tôi mới tóm được nó hôm tháng 3/2010.

Trong một email, bạn tôi viết: "Tao đang làm một cuộc du hành đi thăm từng đứa, khi thì gặp ở quán cà phê, lúc thì tại nhà, mà lần nào cũng ầm ĩ, ba mươi mấy năm rồi, gặp anh em cảm động quá.". Không phải đến bây giờ tụi tôi mới tìm nhau, mà cũng chẳng đợi hôm nay tụi tôi mới biết cảm động, thế nhưng có lẽ càng lớn tuổi, trái tim nó cũng mềm hơn đi và người ta càng ngoái nhìn về quá khứ nhiều hơn thì phải.

Dĩ nhiên là tụi tôi không còn trẻ nhỏ nữa, bởi vì một trong những dịp để anh em gặp gỡ nhau hào hứng nhất là đám cưới . . . ấy ấy, xin được nói cho minh bạch: đó là đám cưới cho con cái, chớ còn chính tụi tôi bây giờ mà cưới hỏi thì hiếm họa lắm mới có tay bị sét đánh!

Thì đó, tháng 10 vừa qua, Đỗ Thanh Huyền cưới vợ. . . cho con trai, anh em vui vẻ hết biết. Tuyệt hảo nhất là có Nguyễn Huỳnh Long từ Vĩnh Long xuống Sài Gòn tham dự để gặp anh em. Nguyễn Kim Nhơn, tay "săn đầu người" của liên lớp tụi tôi trúng mùa lớn, riêng năm nay nhờ may mắn, đã dò tìm được Hoàng Ngọc Quang, Hoàng Thanh Tùng và Nguyễn Huỳnh Long.

Không cứ gì người đi lạc mất nhau, mà kẻ ở cũng trôi dạt biệt tăm! Cái hoàn cảnh, cái thời thế xô đẩy người ta rẽ lối chia đường. Trong thời buổi mất niềm tin, vàng thau lẫn lộn, ngọc đá khó phân này, mọi thứ đều đáng nghi ngờ, vậy mà có những người bạn từ thời niên thiếu mịt mù đó còn tìm nhau dù chỉ để hỏi: ‘Mày sao rồi?’ .

Tôi thương nhất những thằng bạn còn ở lại. Vào năm 75 đó, chúng tôi vừa chớm 18, tuổi bị xiết nhiều nhất, thì chúng tôi về với gia đình không một mảnh . . . giấy che thân! Chúng tôi hoảng loạn bước vào đời trong ngỡ ngàng của tuổi thành niên, trong hoàn cảnh chính trị của đất nước úp nhào đó. Dà, tôi vô cùng thương, quí và kính phục những thằng bạn còn ở lại. Có thể, có thể thôi, bạn tôi vẫn đang còn phải chịu đựng những nhọc nhằn.

Và rồi khi gặp lại nhau, tụi tôi tay bắt mặt mừng, có thằng còn bị tôi ôm choàng lấy, rồi cũng có thằng dí cái bản mặt tua tủa râu của nó vô má tôi! Mà tụi tôi xáp lại là đình đám, đủ mục mây bốn phương: nói cười hỉ hả, rươm rướm tỉ tê, chớ còn sao nữa, tụi tôi mà không la lối cho hả hơi bia, bay mùi rượu thì. . . say chết luôn sao!

Dĩ nhiên là tụi tôi có cả ngàn thứ chuyện để nói, nhưng trước hay sau đánh chết cũng không tránh khỏi những câu đại loại như:
Nhớ hồi nớ trong trường . . . .
Nhớ hồi còn trong trường . . . .
Đó đó, tụi tôi thường hay nói ‘nhớ trường’ mà không có ai cắc cớ suy xét thật sự là nhớ cái gì, luyến tiếc chuyện chi? Tôi ngờ ngợ nó còn rắm rối, nhiêu khê hơn thế nữa. Tôi cũng chưa công bố là trường tôi tên gì, tọa lạc nơi đâu? Anh em trong nhà thì biết tỏng trường mình rồi, còn thiên hạ ngoài ngõ thì cũng xin để một câu hỏi lửng lơ. . .

Tôi ngờ rằng nỗi nhớ nhung đó nó góp nhặt nhiều thứ, khều chỗ này, chạm chỗ kia . . . Khi thì tưởng đến cây bàng dưới sân tập họp tiểu đoàn, lúc lại nhớ đến những thằng bạn đã một thời cùng nhau nghịch phá, có đêm trằn trọc vì nhớ biển nước trong những lần cùng bạn bè ra bãi tắm.

Dù vui hay buồn, dẫu đắng cay hay ngọt ngào thì ngôi trường đó, những hàng cây và tất cả bạn bè cũng đã ấp ủ một quãng đời niên thiếu của tụi tôi, Nhưng rồi tụi tôi nhớ nhung gì đây? Những tòa kiến trúc đẹp đẽ đó đâu phải là thứ đêm đêm khiến người ta thao thức? Dù sao chúng cũng chỉ là gạch đá vôi vữa vô tri.

Còn những hàng cây, cho dù chúng là những vật duy nhất ‘Có-Đời-Sống’ còn trụ ngay tại trường đến giây phút này, nhưng mà cũng đâu có khiến cho gan ruột người ta héo hon sầu muộn? dẫu rằng tôi yêu thích chúng vô cùng. Rồi còn những thằng bạn, dù đã biệt tăm hay vẫn còn đang liên lạc, dĩ nhiên là tôi quí bạn tôi vô bờ bến, bởi vì nhận ra nhau, cũng đã đủ vô giá rồi, điều đó đã xác quyết cho tuổi thành niên của tôi hiện hữu.

Giả tỷ như những đứa bạn cùng lớp với tôi ngày đó, cả thân lẫn sơ đều không biết tôi! Không một thằng nào nhớ tôi, rồi tôi cũng phải hoài nghi ký ức của chính mình, ụa từ 12 đến 18 tuổi mình ở đâu cà? Và thế đó, bạn bè đã góp nhặt cho một phần đời riêng tôi. Khi hồi tưởng về quá khứ, người ta không ai thấy được chính mình, chỉ người chung quanh ta trong quá khứ đó còn lưu giữ hình bóng ta mà thôi.

Ngày xưa khi hai cụ Lưu, Nguyễn lạc chốn thiên thai, dĩ nhiên là các cụ bị mê hoặc ngay bởi cảnh đẹp tuyệt vời và tiên nữ thướt tha yêu kiều hết biết. Thế nhưng chắc chỉ sau vài tuần ngắn ngủi, các cụ nhà ta bỗng phát giác rằng mình chẳng còn ham muốn gì nữa cả! Thấy tiên nữ đẹp thì các cụ cũng chỉ ngắm ngắm nghía nghía, thấy đào tiên thì cũng chỉ hít hít hà hà.

Có nghĩa là ngự đến chốn thần tiên ấy, thì đâu còn yêu đương loạn xạ và ăn nhậu tưng bừng nữa! vì ở nơi đó làm gì có nhà hộ sinh và nhà vệ sinh! Các tiên có đâu mà làm những chuyện trần tục ấy. Chán ngấy chốn tiên cảnh, các cụ nảy ra nhớ quê nhà, thế là các cụ kiện cáo nằng nặc đòi về quê cho bằng được. Về chốn trần gian, thì quê xưa vẫn còn đó, chỉ có người thân quen của các cụ thì không còn nữa, vì đã qua đi đến cả trăm năm. Ở lại quê nhà được vài tháng, hai cụ nhà ta lại chán! Và các cụ lại rủ nhau đi tìm đường lên lại chốn thiên thai. thiệt là chán mớ đời! chẳng hiểu hai cụ nhớ cái gì nữa!

Nhắc lại chuyện hai cụ Lưu, Nguyễn chẳng phải là tụi tôi có dây mơ rễ má gì, mà trong anh em ta cũng chẳng có ai lạc chốn thiên thai. Thế nhưng chuyện nhớ trường của tụi tôi nó cũng ỡm ờ giống như chuyện nhớ quê nhà của hai cụ: trường xưa và bạn bè cũ vẫn còn đó chớ đâu!

Những dãy lầu, nơi tụi tôi đã trú ngụ, học hành nhiều năm trời, những hàng cây và tất cả vẫn còn đó, nhưng tự lâu đã không còn là ‘trường’ của chúng tôi nữa! nếu chúng tôi là linh hồn của trường, thì ngày nay những mảnh hồn thất tán lạc loài chúng tôi thường tạo dịp để gặp gỡ nhau. Và rồi nếu câu chuyện đưa đẩy, nhắc nhở đến trường xưa, thì kẻ nói người nghe đều vương vướng nỗi ngậm ngùi . . .

Nỗi tiếc nhớ của chúng tôi cũng tựa như sự kiếm tìm quanh quẩn của hai cụ Lưu, Nguyễn khi xưa: dòng sông niên thiếu đã qua đi, có ai còn tắm lại được lần nữa bao giờ?

| ↑Top of page ↑ |